Kì 5: Lợi ích từ việc uống trà

Từ lâu, việc pha trà và thưởng trà được xem như bộ môn nghệ thuật tao nhã, là khoảng thời gian để ngồi lại suy ngẫm, thư giãn và chiêm nghiệm cuộc sống. Văn hóa uống trà trải khắp từ đông sang tây, từ Trung Quốc, Nhật Bản tới Anh Quốc với văn hóa trà chiều của giới thượng lưu. Ở Việt Nam, sử dụng trà không cầu kì, khắt khe hay trang trọng như các nước. Nó mang dư vị dân dã, thân thiện và tình thâm giao sâu nặng. Văn hóa trà đá vỉa hè được duy trì cho tới tận ngày nay. Bài ngày hôm nay, tôi sẽ cùng các bạn phân tích lợi ích của việc uống trà.

Choi và cộng sự công bố nghiên cứu thuần tập tiến cứu dựa trên dữ liệu của UK Biobank gồm 498.043 người từ 40 - 69 tuổi, đánh giá mối liên quan giữa uống trà và nguy cơ tử vong trong 4 năm từ 2006 - 2010. Trong khoảng thời gian theo dõi trung bình 11,2 năm; uống trà từ 2 cốc trở lên có nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân thấp hơn. So với nhóm không uống, chia các nhóm ít hơn 1 cốc, 2 - 3, 4 - 5, 6 - 7, 8 - 9 và từ 10 cốc cho thấy mức độ giảm tử vong cao nhất ở nhóm tiêu thụ mức độ trung bình ( 2 - 7 cốc), tương ứng là 5%, 13%, 12% , 12%, 9% và 11%. Kết quả tương tự cũng được ghi nhận khi đánh giá về tử vong do tim mạch, bệnh tim thiếu máu và đột quỵ. Tuy nhiên, nghiên cứu quan sát này cũng bỏ qua đánh giá một số yếu tố như hàm lượng caffeine hay thời gian sử dụng trà. (1)

Một nghiên cứu tương tự của Nie và cộng sự dựa trên dữ liệu China Kadoorie Biobank gồm 438.443 người được theo dõi trung bình 11,1 năm. Kết quả cho thấy, so với người không bao giờ uống, nhóm uống không thường xuyên và sử dụng thương xuyên giảm tử vong do mọi nguyên nhân 11% và 8%, tương ứng. Tuy nhiên, phân tích cho thấy lợi ích thu được từ việc uống trà cao hơn ở nam giới so với nữ giới (p < 0,05). Khi đánh giá về các tiêu chí khác, nhóm sử dụng thường xuyên giảm 17% tử vong do bệnh tim thiếu máu, 18% đột quỵ NMN, 14% đột quỵ CMN, 16% tử vong do nguyên nhân khác trong khi không có sự khác biệt về tử vong do ung thư và bệnh hô hấp. Khi phân tích tương tác với hút thuốc lá và uống rượu cho thấy ở nhóm không sử dụng thuốc lá và nghiện rượu, không có sự khác biệt giữa uống trà và tử vong do ung thư. Tuy nhiên, ở nhóm hút thuốc lá và nghiện rượu, việc tiêu thụ trà thường xuyên gia tăng nguy cơ tử vong do ung thư (2) Khi phân tích trong nhóm nam giới, kết quả từ Liu và cộng sự cho thấy tiêu thụ trà xanh thường xuyên giảm nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân, tim mạch và ung thư. Nghiên cứu gồm 164.681 nam giới khỏe mạnh trong 2 năm 1990 và 1991 được theo dõi trung bình 11 năm, tổng 1.961.791 người theo dõi. So với nhóm không dùng, uống trà thường xuyên  5 g/ngày giảm 6% tử vong do mọi nguyên nhân, 5% với nhóm 5 - 10 g/ngày và 11% với > 10 g/ngày. Đánh giá về tử vong do tim mạch, cải thiện sống còn tương ứng 7%, 9% và 14% trong khi với ung thư, các tỷ lệ này là 14%, 8% và 21%. (3)

Đánh giá chung về hiệu quả của trà trong nhóm quần thể Đông Á, Shin và cộng sự thực hiện phân tích tổng hợp gồm 12 nghiên cứu từ 4 quốc gia Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Singapore. Trong khoảng thời gian theo dõi trung bình 6,5 - 22,7 năm gồm 248.050 nam và 280.454 nữ có 94.774 người tử vong. Nhóm dùng trà xanh liên quản tử vong vo mọi nguyên nhân, tử vong tim mạch, tử vong khác nhưng không có ý nghĩa giảm tử vong do ung thư. Đối với nam giới, uống trà giảm tử vong tim mạch tới 21%, con số này với nữ giới là 22%. Mối liên quan giữa trà đen với kết cục yếu hơn, không rõ ràng xu hướng trong quá trình theo dõi. (4)

Đánh giá chi tiết hơn về mối liên quan giữa uống trà và ung thư, Yu và cộng sự thực hiện nghiên cứu về liên quan giữa trà nóng, thuốc lá và nguy cơ ung thư thực quản. Trong thời gian trung bình 9,2 năm theo dõi và ghi nhận 1.731 trường hợp EC sự cố. Việc uống trà nóng kết hợp với uống rượu và hút thuốc lá có nguy cơ ung thư thực quản cao hơn so với chỉ uống trà nóng. Việc kết hợp uống trà và uống rượu ≥ 15g hàng tuần có nguy cơ phát triển EC cao nhất (HR 5,00; KTC 95%: 3,64, 6,88 ). Tương tự, với người hút thuốc và dùng trà nóng thường xuyên gia tăng nguy cơ EC với HR 2,03 (1,55 - 2,67). (5) Một nghiên cứu khác của Li và cộng sự đánh giá mối liên quan giữa tiêu thụ trà với ung thư nói chung cũng như 6 loại ung thư gồm: ung thư phổi, da dày, đại trực tràng, gan, ung thư vú và ung thư cổ tử cung gồm 455.981 người từ 30 - 79 tuổi được trích xuất dữ liệu China Kadoorie Biobank. Kết quả cho thấy 22,652 ca bệnh ung thư trong 10,1 năm theo dõi (5,04/1000 người - năm). Đánh giá việc uống trà > 4 g/ngày không có ý nghĩa thống kê với mọi ung thư, ung thư phổi, đại trực tràng và gan so với nhóm không thường xuyên uống nhưng có nguy cơ gia tăng 46% với ung thư dạ dày. Khi kết hợp với hút thuốc lá và uống rượu, mức tiêu thụ ít hay thường xuyên trà đều gia tăng nguy cơ ung thư nói chung. (6) 

Với mối liên hệ giữa trà và đột quỵ chung, Tian và cộng sự đánh giá 487.377 người từ China Kadoorie Biobank với tổng lượt theo dõi ~ 4.3 tỷ người có 38727 ca đột quỵ. Uống trà thường xuyên giảm nguy cơ đột quỵ theo thời gian sử dụng. Tuy nhiên, ý nghĩa thống kê đạt được trong nhóm trà xanh, không bao gồm các loại khác. Ngoài ra, uống trà theo mức độ từ thi thoảng, hàng tuần tới hàng ngày giảm 4%, 6% và 8% đột quỵ. Lợi ích từ việc uống trà chỉ được ghi nhận ở nam giới, ở nhóm không tiêu thụ cồn và thuốc lá. (7)

Ảnh hưởng của trà còn được đánh giá qua mối liên hệ với đái tháo đường typ 2, gãy xương và Parkinson. Liu và cộng sự cho rằng việc uống trà xanh làm gia tăng nguy cơ T2D so với người không uống 20%, sự tuyến tính theo liều cũng đạt ý nghĩa thống kê (p trend < 0.001). Sự gia tăng nguy cơ T2D ở cả hai giới với 8% trong 5 năm đầu, 22% trong 5 năm tiếp theo và 16% sau 10 năm. Mối liên quan này không thay đổi đáng kể theo chỉ số khối cơ thể, tỷ lệ vòng eo trên hông hoặc tình trạng hút thuốc. Mức độ caffeine trong huyết tương cũng có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường (P = 0,03), xác nhận kết quả dựa trên việc tự báo cáo. (8) Kết quả ngược lại trong ghiên cứu khác của Nie và cộng sự gồm 482.425 người khỏe mạnh và 30.300 người T2D trong khoảng 30 - 79 tuổi. Trong nhóm khỏe mạnh, 17.434 tiến triển thành T2D trong trung bình 11,1 năm theo dõi. So với người không uống, nhóm tiêu thụ thường xuyên giảm 8% nguy cơ. Với nhóm đã bị T2D, uống trà thường xuyên giảm 10% nguy cơ tử vong và 12% nguy cơ biến chứng vi mạch trong khi không có ý nghĩa thống kê với biến chứng mạch lớn. Và kết quả tương tự cũng được ghi nhận lợi ích từ việc tiêu thụ trà xanh. (9) Đánh giá của Shen và cộng sự về uống trà với gãy xương trong khoảng trung bình 10,1 năm theo dõi. Việc dùng trà hàng ngày giảm nguy cơ gãy xương 12%, dùng trà xanh giảm nguy cơ gãy xương đùi 20% và dùng trong hơn 30 năm giảm 32%. (10) Cuối cùng, mối liên quan với bệnh Parkinson, Nie và cộng sự cho rằng việc dùng trà thường xuyên giảm 32% nguy cơ tiến triển thành bệnh cũng như kết hợp cả hút thuốc lá với dùng trà giảm 38%. Nghiên cứu theo dõi trong trung bình 10,8 năm gồm 512.725 người từ 30 - 79 tuổi tại Trunng Quốc từ năm 2004. (11)


                                                                                                                                               Kí tên                                                                                                                                                        Dr. Rảnh rỗi      



Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Kì 10: Liều dùng của NOACs nên theo công thức tính MLCT nào?

Kì 4: Co thắt động mạch vành - Phần 1

Kì 6: Chẹn beta sau nhồi máu cơ tim cấp