Kì 1: Đánh giá NC quan sát - Thói quen uống rượu và rung nhĩ mới mắc ở người trẻ



Han và cộng sự (1) đã thực hiện nghiên cứu quan sát đánh giá mối liên hệ về lượng tiêu thụ cồn trong 4 năm (2009 - 2012) và tỷ lệ xuất hiện rung nhĩ mới ở người trẻ (20 - 39 tuổi) tại Hàn Quốc.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, thói quen uống rượu thường xuyên mức độ trung bình - nặng liên quan tới tỷ lệ mắc rung nhĩ cao hơn các nhóm còn lại.

Trước khi bắt đầu, tôi muốn giới thiệu về thang điểm Newcastle - Ottawa (2) đánh giá kết quả nghiên cứu thuần tập dưới đây: 

Các ngưỡng để chuyển đổi thang đo Newcastle-Ottawa sang tiêu chuẩn AHRQ (tốt, khá và kém):
  • Chất lượng tốt: 3 hoặc 4 sao trong mục lựa chọn VÀ 1 hoặc 2 sao trong mục so sánh VÀ 2 hoặc 3 sao trong mục kết quả
  • Chất lượng khá: 2 sao trong mục lựa chọn VÀ 1 hoặc 2 sao trong mục so sánh VÀ 2 hoặc 3 sao trong mục kết quả
  • Chất lượng kém: 0 hoặc 1 sao trong mục lựa chọn HOẶC 0 sao trong mục so sánh HOẶC 0 hoặc 1 sao trong mục kết quả 

Okie. Let's go.
1. Tiêu chí đầu tiên: Tính đại diện quần thể nghiên cứu

Đối tượng tham gia khám sức khỏe hàng năm ở Hàn Quốc là người lao động có hợp đồng (người lao động và người sử dụng lao động ở tất cả các nơi làm việc và công chức, viên chức trường học). Ngoài ra, những người đi khám sức khỏe 4 lần liên tiếp thường quan tâm đến sức khỏe của mình hơn. Do đó, hạn chế của nghiên cứu có thể có sự sai lệch về lựa chọn trong dân số nghiên cứu và có thể không đại diện cho toàn bộ dân số trẻ.

Vậy không có sao nào được thêm vào. 😢

2. Thông tin nhóm phơi nhiễm

Lượng rượu được khảo sát bằng cách sử dụng bảng câu hỏi tự báo cáo, trong đó có thể đã xảy ra sai lệch thu hồi. 

Vậy không có sao nào được thêm vào. 😢

3. Lựa chọn nhóm không phơi nhiễm

Không cần phân tích nhiều về phần này, chúng ta đã có một sao rồi. 😊

Tuy nhiên, đặc điểm giữa hai nhóm có sự khác biệt. Nhóm tiêu thụ rượu trung bình - nặng có tỷ lệ THA, ĐTĐ, rối loạn lipid máu và BMI cao hơn. Tất cả yếu tố này đều làm gia tăng nguy cơ rung nhĩ. Ngoài ra, đặc điểm giới tính cũng khác nhau. Một tỷ lệ nhỏ phụ nữ tiêu thụ rượu trung bình - nặng. Một số nghiên cứu chỉ ra rung nhĩ có có sự khác biệt về giới tính. 

4. Tiêu chí lựa chọn kết cục

Trong nghiên cứu này, những người có rung nhĩ trước đó không được vào nghiên cứu.

Thêm một sao nữa rồi. 😊

5. Khả năng so sánh

Nhóm tác giả sử dụng mô hình Cox dự đoán hiệu chỉnh đa biến, bao gồm: 

Tuổi, giới tính, bệnh đồng mắc: THA, ĐTĐ, rối loạn lipid máu, suy tim, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, bệnh tuyến giáp, bệnh động mạch ngoại vi, nhồi máu cơ tim trước, ĐQ nhồi máu não trước đó, ngưng thở khi ngủ, bệnh thận mạn , BMI, hút thuốc, hoạt động thể chất thường xuyên và thu nhập thấp.

Tuy nhiên, nghiên cứu không đề cập tới việc sử dụng thuốc.

Ta được hai sao từ tiêu chí này. 😊

6. Đánh giá kết cục

Thông tin bệnh tật được thu nhận từ Cơ sở dữ liệu thông tin y tế quốc gia Hàn Quốc (NHID), cơ sở dữ liệu này lưu giữ tất cả dữ liệu y tế nội trú và ngoại trú, bao gồm đơn thuốc, thủ tục và hồ sơ phẫu thuật cũng như thông tin về việc thanh toán phí bảo hiểm. Hệ thống Bảo hiểm Y tế Quốc gia Hàn Quốc (NHIS) là bắt buộc dành cho công dân Hàn Quốc, với hơn 51 triệu người đăng ký tính đến năm 2019. Một cuộc kiểm tra sức khỏe quốc gia được tiến hành hàng năm hoặc hai năm một lần cho những công dân trên 20 tuổi. Ngoài các phép đo vật lý và các bài kiểm tra trong phòng thí nghiệm, một bảng câu hỏi tự báo cáo được thu thập. Ta thêm được một sao nữa rồi. 😊

Tuy nhiên, có hai điều cần lưu ý: 
  1. Nhận dạng AF bằng mã ICD-10 đã được xác nhận trong một nghiên cứu của Lee và cộng sự, 26 nơi giá trị dự đoán dương của việc xác định AF bằng mã ICD-10 đạt 94,1%. 
  2. Hơn nữa, sử dụng NHID không phù hợp với nghiên cứu, vì vậy có thể có sự ước tính dưới mức hay quá mức về tỷ lệ rung nhĩ mới mắc.
7. Thời gian theo dõi

Tổng đánh giá 4 năm (> 6 tháng) để xuất hiện kết cục. Do đó, một sao nữa được thêm vào. 😊

8. Tiêu chí cuối cùng: Quá trình theo dõi

Bạn đọc hãy nhìn lại hình này một lần nữa:


Không có người nào bỏ theo dõi. Tỷ lệ đạt theo dõi 100%.

Tổng kết:

Chúng ta có 7/9 điểm. Một kết quả khả quan dựa trên điểm số nhưng phân loại nghiên cứu thuộc chất lượng khá vì đạt 2 sao mục lựa chọn, 2 sao mục so sánh và 3 sao mục kết cục.

Trích dẫn:

(1) Habitual alcohol intake and risk of atrial fibrillation in Young adults in Korea. Minju Han, MD1So-Ryoung Lee, MD, PhD1Eue-Keun Choi, MD, PhD1,2et al. JAMA Netwokd Open. 2022;5(9):e2229799. doi:10.1001/jamanetworkopen.2022.29799

(2) The Newcastle - Ottawa Scale (NOS) for assessing the quality of nonrandomised studies in meta - analyses. GA Wells, B Shea, D O'Connell, J Peterson, V Welch, M Losos, P Tugwell, https://www.ohri.ca/programs/clinical_epidemiology/oxford.asp


Kí tên                
Dr. Rảnh rỗi           

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Kì 10: Liều dùng của NOACs nên theo công thức tính MLCT nào?

Kì 4: Co thắt động mạch vành - Phần 1

Kì 6: Chẹn beta sau nhồi máu cơ tim cấp